Mèo XinhWiki
Tìm
Mèo trong văn hoá & nghệ thuật

Mèo trong văn học thế giới: mèo Cheshire, Mèo Đi Hia và mèo của T.S. Eliot

Mèo Đi Hia của Perrault (1697) là kẻ mưu mẹo, mèo Cheshire của Lewis Carroll (1865) là kẻ bí ẩn, đàn mèo của T.S. Eliot là những vai diễn. Mỗi con mèo một vai riêng.

Mèo trong văn học thế giới: mèo Cheshire, Mèo Đi Hia và mèo của T.S. Eliot

Ba con mèo nổi tiếng nhất văn học thế giới là Mèo Đi Hia trong truyện cổ Charles Perrault in năm 1697, mèo Cheshire biết biến mất chỉ để lại nụ cười trong Alice ở xứ sở thần tiên (1865) của Lewis Carroll, và đàn mèo có tên kỳ quặc trong tập thơ Old Possum's Book of Practical Cats (1939) của T.S. Eliot. Đọc kỹ, mỗi con mèo mang một vai khác hẳn nhau: kẻ mưu mẹo, kẻ bí ẩn, kẻ diễn trò. Văn học còn dùng mèo làm người kể chuyện, như trong Tôi là con mèo của Natsume Sōseki.

Mèo Đi Hia: con mèo làm nên sự nghiệp cho chủ

Truyện kể người thợ xay bột chết, chia gia tài cho ba con trai. Người con út chỉ được con mèo. Con mèo xin một đôi ủng và một cái bao, rồi bằng mưu mẹo biến chủ nghèo thành "hầu tước Carabas": dâng thú săn được lên nhà vua, dàn cảnh chủ bị cướp quần áo khi tắm sông, doạ nông dân phải nói ruộng đất là của hầu tước, cuối cùng lừa con yêu tinh hoá thành chuột rồi ăn mất, chiếm luôn lâu đài. Chàng út lấy công chúa.

Trước Perrault đã có mèo đi hia

Bản của Perrault, in trong tập Truyện kể thời xưa năm 1697, là bản quen nhất, nhưng không phải bản đầu tiên. Ở Ý, Giovan Francesco Straparola đã có một truyện tương tự giữa thế kỷ 16, và Giambattista Basile có một dị bản trong tập truyện in năm 1634. Ở các bản Ý, con mèo có khi là mèo cái và kết truyện cũng khác.

Một con mèo "khó dạy đạo lý"

Nhiều người đọc lớn lên rồi mới thấy lạ: con mèo dối trá, doạ nạt, chiếm đoạt, vậy mà được thưởng. Perrault gắn kèm lời răn rằng sự khéo léo, mưu trí có giá trị hơn của cải thừa kế. Các nhà nghiên cứu truyện cổ coi đây là truyện về người yếu thế leo lên bằng trí khôn, một kiểu nhân vật có ở nhiều nền văn hoá. Mèo được chọn vì nó nhỏ, nhanh, và ai cũng tin nó ranh mãnh.

Mèo Cheshire: nụ cười không có mèo

Trong Alice ở xứ sở thần tiên, Alice gặp con mèo Cheshire cười toe toét trên cành cây. Nó nói chuyện vòng vo, bảo rằng ở đây ai cũng điên cả, rồi biến mất dần, từ đuôi trở lên, cuối cùng chỉ còn nụ cười lơ lửng giữa không trung. Alice nghĩ: mèo không cười thì thấy nhiều rồi, nhưng nụ cười không có mèo thì đúng là chưa thấy bao giờ.

Đoạn nổi tiếng nhất là khi Alice hỏi đường. Mèo bảo đi đường nào là tuỳ cô muốn đến đâu; Alice nói cô không quan tâm lắm, thì mèo đáp vậy đi đường nào cũng được. Câu đối đáp ngắn này được trích rất nhiều trong sách kỹ năng, quản trị, như một lời nhắc phải biết mình muốn gì trước khi chọn đường.

Vì sao lại là "Cheshire"

Thành ngữ tiếng Anh "cười như mèo Cheshire" đã có trước Carroll, ít nhất từ thế kỷ 18. Cheshire là một hạt ở tây bắc nước Anh, cũng là quê của Carroll. Vì sao mèo vùng này lại "cười" thì có nhiều giả thuyết, như loại pho mát Cheshire xưa được đúc hình mèo, hay một biểu tượng vẽ trên biển quán. Chưa giả thuyết nào được chứng minh.

Mèo Cheshire đi xa đến mức cả vật lý cũng mượn tên: "hiệu ứng mèo Cheshire lượng tử" là tên các nhà vật lý đặt cho một hiện tượng trong đó một tính chất của hạt dường như tách khỏi chính hạt, giống nụ cười tách khỏi con mèo.

Con mèo tự đi một mình: Kipling

Trong tập Just So Stories (1902) của Rudyard Kipling có truyện "Con mèo đi một mình". Thuở xưa, mọi con vật đều hoang. Người đàn bà lần lượt thuần hoá chó, ngựa, bò bằng hang ấm và thức ăn. Chỉ có mèo không chịu làm đầy tớ. Nó mặc cả: được ngồi bên lửa, được uống sữa, đổi lại sẽ bắt chuột và làm em bé vui. Nhưng nó vẫn là con mèo "đi một mình, nơi nào với nó cũng như nhau".

Truyện ngụ ngôn này góp phần lớn vào hình ảnh mèo "độc lập, tự do" trong văn hoá phương Tây. Khoa học về thuần hoá mèo, với kho lúa và con chuột, đã có ở mục lịch sử. Thú vị là ý của Kipling, mèo tự chọn sống cạnh người vì lợi ích của nó, lại không xa lắm với điều các nhà khoa học nghĩ ngày nay.

Mèo làm người kể chuyện: Sōseki

Tôi là con mèo của Natsume Sōseki ra đời từng kỳ trên tạp chí từ năm 1905 đến 1906. Câu mở đầu nổi tiếng nhất văn học Nhật hiện đại: "Tôi là con mèo. Tên thì chưa có." Con mèo không tên sống trong nhà một ông thầy giáo dạy tiếng Anh tên Kushami, quan sát ông chủ, vợ ông và đám bạn trí thức hay đến chơi, rồi bình phẩm bằng giọng vừa kẻ cả vừa hài hước.

Qua mắt mèo, Sōseki giễu thói khoe chữ, thói hão danh của tầng lớp trí thức Nhật thời Minh Trị đang hấp thụ văn hoá phương Tây. Mèo hợp vai này vì nó ở trong nhà, ai cũng mặc kệ nó, nó thấy hết mà không ai đề phòng. Đây là lý do nhiều nhà văn về sau cũng mượn mắt mèo.

Mèo ma quái và mèo diễn trò

Behemoth của Bulgakov

Trong tiểu thuyết Nghệ nhân và Margarita của Mikhail Bulgakov, viết từ cuối thập niên 1920 tới năm 1940 và chỉ được in ở Liên Xô từ năm 1966, quỷ Woland đến Moskva cùng đám tuỳ tùng, trong đó có Behemoth: một con mèo đen to lớn, đi hai chân, nói năng hoạt bát, mê rượu và gây rối khắp thành phố. Behemoth vừa đáng sợ vừa buồn cười, là một trong những nhân vật được độc giả nhớ nhất.

Mèo đen của Poe

Truyện ngắn kinh dị "Con mèo đen" (1843) của Edgar Allan Poe hay được nhắc khi nói mèo trong văn học. Đây là truyện dành cho người lớn, có những cảnh bạo lực với con vật, không hợp với trẻ em. Chỉ nên biết rằng truyện này góp phần gắn mèo đen với điềm gở trong văn hoá đại chúng.

Đàn mèo của T.S. Eliot

Old Possum's Book of Practical Cats là tập thơ vui Eliot viết cho các con đỡ đầu, in năm 1939. Mỗi bài là một con mèo có tính cách riêng: con mèo bí ẩn chuyên gây án mà không bao giờ bị bắt tại trận, con mèo của đoàn tàu đêm giữ trật tự toa giường nằm, con mèo già của nhà hát hoài niệm thời vàng son. Bài mở đầu bàn chuyện đặt tên mèo: theo Eliot, mỗi con mèo cần ba cái tên, một tên thường ngày cả nhà gọi, một tên riêng oai vệ hơn, và một tên bí mật mà chỉ con mèo biết.

Tập thơ còn bản quyền ở nhiều nước, nên ở đây chỉ kể lại ý. Năm 1981, nó thành nhạc kịch Cats, chuyện được bàn ở bài về mèo trong âm nhạc cùng mục.

Mỗi con mèo một vai

Tác phẩmNămVai của con mèo
Mèo Đi Hia (Perrault)1697Kẻ mưu mẹo giúp người yếu thế leo lên
Alice ở xứ sở thần tiên (Carroll)1865Kẻ bí ẩn, nói câu triết lý vòng vo
Con mèo đi một mình (Kipling)1902Biểu tượng tự do, sống cạnh người theo điều kiện của mình
Tôi là con mèo (Sōseki)1905–1906Người quan sát, giễu đời
Practical Cats (Eliot)1939Những "nhân vật" diễn trò, mỗi con một tính
Nghệ nhân và Margarita (Bulgakov)in 1966Con mèo quỷ quái, gây rối và gây cười

Văn học gần đây vẫn tiếp tục mượn mèo. Trong Kafka bên bờ biển của Haruki Murakami, ông già Nakata nói chuyện được với mèo và đi tìm mèo lạc; mèo xuất hiện ở rất nhiều tác phẩm khác của ông. Danh sách sách về mèo nên đọc theo lứa tuổi có ở bài cuối cùng mục.

Những nhà văn sống cùng mèo

Có những con mèo nổi tiếng chỉ vì chủ của chúng. Hodge, con mèo của nhà từ điển học Samuel Johnson ở London thế kỷ 18, được ghi lại trong cuốn tiểu sử của James Boswell: Johnson tự đi mua hàu cho mèo ăn, để người hầu khỏi ghét con mèo vì phải làm việc vặt. Ngày nay trước ngôi nhà cũ của Johnson ở Gough Square có tượng Hodge ngồi cạnh vỏ hàu. Mèo của Hemingway ở Key West thì được kể ở mục điểm đến mèo trong hệ.

Tìm hiểu thêm

  • Đọc bản dịch tiếng Việt: Alice ở xứ sở thần tiên, Tôi là con mèo, Nghệ nhân và Margarita, Kafka bên bờ biển đều có bản dịch phổ biến. Truyện Mèo Đi Hia có trong hầu hết tuyển tập truyện cổ Perrault.
  • Đọc bản gốc ngắn: chương "Lợn và hạt tiêu" và chương sân bóng vồ của Hoàng hậu trong Alice là chỗ mèo Cheshire xuất hiện; tiếng Anh thế kỷ 19 nhưng khá dễ.
  • Nhà Samuel Johnson ở Gough Square, London: nhà bảo tàng nhỏ, có tượng mèo Hodge ngoài sân.
  • Thử đọc lại một truyện cổ quen với câu hỏi: con mèo trong truyện là tốt hay xấu, vì sao người kể chọn mèo? Câu hỏi này hợp để bàn với trẻ từ tám tuổi trở lên.

Câu hỏi thường gặp

Mèo Cheshire là gì?

Mèo Cheshire là con mèo cười toe toét trong Alice ở xứ sở thần tiên (1865) của Lewis Carroll, biết biến mất dần chỉ để lại nụ cười. Thành ngữ "cười như mèo Cheshire" có từ trước Carroll; vì sao mèo vùng Cheshire lại cười thì có nhiều giả thuyết chưa được chứng minh.

Truyện Mèo Đi Hia của ai?

Bản nổi tiếng nhất là của Charles Perrault, in năm 1697 ở Pháp. Trước đó ở Ý đã có các dị bản của Straparola (giữa thế kỷ 16) và Basile (in năm 1634). Truyện kể con mèo dùng mưu mẹo biến chủ nghèo thành hầu tước Carabas.

Tôi là con mèo của Sōseki kể về gì?

Tiểu thuyết in từng kỳ năm 1905–1906, do một con mèo không tên kể lại cuộc sống trong nhà ông thầy giáo Kushami ở Tokyo. Qua mắt mèo, Natsume Sōseki giễu thói khoe chữ, hão danh của trí thức Nhật thời Minh Trị.

Nhạc kịch Cats lấy từ tác phẩm nào?

Nhạc kịch Cats (1981) dựa trên tập thơ vui Old Possum's Book of Practical Cats (1939) của T.S. Eliot. Mỗi bài thơ là một con mèo có tính cách riêng, và bài mở đầu bàn chuyện mỗi con mèo cần ba cái tên.

Vì sao nhà văn hay viết về mèo?

Mèo sống trong nhà, lặng lẽ, thấy hết mà không ai đề phòng, nên hợp vai người quan sát. Mèo lại có tiếng độc lập, bí ẩn và ranh mãnh, nên dễ gánh các vai mưu mẹo hay kỳ bí. Nhiều nhà văn cũng sống cùng mèo và viết từ chính con mèo nhà mình.

Mở app Mèo Xinh

Quán cà phê mèo: ghép khách đúng bé, cho mèo nghỉ đúng lúc

Mở app Mèo Xinh

Bài viết liên quan

Mở app Mèo Xinh

Quán cà phê mèo: ghép khách đúng bé, cho mèo nghỉ đúng lúc

Mở app Mèo Xinh Xem app khác